Đào Duy Từ (1572–1634) là người đã bày ra lũy Thầy ở Quảng Bình, bức lũy đất giúp Đàng Trong chặn quân chúa Trịnh suốt gần một thế kỷ rưỡi. Trước đó, ông là con nhà kép hát xứ Thanh bị gạch tên khỏi bảng đỗ năm 1593, rồi làm gã chăn trâu ở Bồng Sơn. Câu chuyện đáng chú ý vì cho thấy một nhân tài bị quê hương khước từ lại góp phần định hình cục diện đất nước thế kỷ XVII.
Tóm tắt nhanh
Đào Duy Từ sinh trong gia đình hát xướng nên bị cấm dự thi. Ông đỗ Á nguyên nhưng bị xóa tên, ba mươi năm sau vào Nam và được chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) trọng dụng. Ông bày kế giữ đất, đắp lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ (lũy Thầy), soạn binh thư Hổ trướng khu cơ. Ông mất năm 1634. Bức lũy về sau còn chặn nhiều đợt tiến công của quân Trịnh, và ông được nhà Nguyễn thờ ở Thái miếu năm 1806.
Diễn biến chính
1572: con nhà kép hát ở làng Hoa Trai
Theo kịch bản, ông sinh năm 1572 ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, xứ Thanh. Cha là Đào Tá Hán, một kép hát coi sóc phường hát, mất khi ông lên năm. Mẹ là bà Vũ Thị Kim Chi, góa bụa, làm đủ nghề để nuôi con ăn học.
Thời ấy người làm nghề hát xướng bị coi thấp, con cái bị cấm đi thi. Vì vậy bà cho con khai theo họ mẹ, tên là Vũ Duy Từ.
1593: Á nguyên bị gạch tên
Năm 1592 quân Trịnh Tùng lấy lại Thăng Long từ nhà Mạc. Năm sau triều đình mở khoa thi, và chàng trai hai mươi mốt tuổi đỗ Á nguyên. Ít ngày sau có người tố ông là con kép hát khai man lý lịch, tên ông bị xóa và ông không được dự thi nữa.
Câu chuyện kể rằng mẹ ông sau đó bị xã trưởng Lưu Minh Phương ức hiếp, dồn vào đường cùng và tự vẫn. Ông ốm nặng, rồi về quê dạy học, đọc binh thư và ghi chép địa thế suốt nhiều năm.
1625: vào Nam, làm gã chăn trâu Bồng Sơn
Năm 1625, khi đã hơn năm mươi tuổi, ông vượt đèo Ngang và sông Gianh vào đất chúa Nguyễn. Chúa đang đi kinh lý nên ông không gặp được, đành đi tiếp đến Quy Nhơn. Ở làng Tùng Châu (Bồng Sơn), ông chăn trâu cho phú hộ Chúc Trịnh Long.
Tài học của ông lộ ra khi ông giải được câu hỏi kinh sử mà các nho sĩ trong bữa tiệc nhà chủ đều bó tay. Khám lý Trần Đức Hòa, người thân tín của chúa, mời ông về dạy học và gả con gái cho ông.
Thập niên 1620: gặp chúa Sãi
Trần Đức Hòa dâng lên chúa bài thơ Nôm Ngọa Long cương vãn, trong đó ông tự ví mình như Khổng Minh chờ minh chủ. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho mời ông, phong Nha úy Nội tán, tước Lộc Khê hầu, coi việc quân cơ và bàn việc nước. Chúa gọi ông là "Thầy".
Năm 1627, Trịnh Tráng đem quân vào đánh, trận đầu của cuộc chiến Trịnh–Nguyễn. Quân Trịnh rút về, và theo lời kể thì nhờ kế tung tin họ Trịnh có biến ở Thăng Long.
1630–1631: Nam Bố Chính và lũy Thầy
Năm 1630, theo lời ông, chúa Nguyễn đánh chiếm Nam Bố Chính để có vùng đệm, và ông cho đắp lũy Trường Dục. Năm 1631, ông trình kế hoạch đắp lũy Nhật Lệ chạy từ chân núi Đâu Mâu, qua cửa biển Nhật Lệ, ra làng Đông Hải. Lũy có cọc gỗ lim làm khung, đất nện từng lớp, hào ngoài, ụ súng và cửa ải Quảng Bình quan. Dân gọi đó là lũy Thầy, theo cách chúa gọi ông.
Ông còn chỉnh đốn quân đội, lập xưởng đúc súng, đóng thuyền, soạn Hổ trướng khu cơ gồm ba phần Thiên, Địa, Nhân, và tiến cử người con rể là Nguyễn Hữu Tiến.
1633–1634: thắng quân Trịnh, rồi qua đời
Năm 1633, quân Trịnh kéo đến cửa Nhật Lệ, chờ một người con chúa Sãi làm nội ứng nhưng âm mưu bị phát giác. Họ đánh vào lũy không nổi và phải rút lui.
Tháng mười năm Giáp Tuất (cuối 1634), Đào Duy Từ mất, thọ sáu mươi ba tuổi, sau khoảng tám năm phò chúa. Ông được an táng ở Tùng Châu, nơi từng chăn trâu, và được chúa truy tặng Hiệp mưu đồng đức công thần.
Sau năm 1634: lũy đứng vững, rồi thất thủ
Các năm 1643, 1648, 1661 và 1672, quân Trịnh còn kéo vào nhưng không vượt được lũy. Năm 1655, Nguyễn Hữu Tiến đưa quân Nguyễn ra Bắc, chiếm bảy huyện xứ Nghệ và giữ được năm năm. Sau đó sông Gianh thành ranh giới Đàng Ngoài, Đàng Trong.
Năm 1774–1775, khi Đàng Trong suy yếu và Tây Sơn nổi dậy, quân Trịnh của Hoàng Ngũ Phúc qua lũy gần như không gặp kháng cự và vào Phú Xuân. Năm 1806, vua Gia Long cho thờ ông ở Thái miếu, và về sau Minh Mạng truy phong ông là Hoằng Quốc công.
Điều còn tranh cãi hoặc cần thận trọng
- Năm sinh có sách ghi 1572, có sách ghi 1570.
- Lý do bị xóa tên năm 1593: đa số kể là vì thân phận con kép hát, nhưng có bản nói là do bài văn bàn cải cách trái ý chúa Trịnh Tùng.
- Chuyện mẹ ông bị xã trưởng ức hiếp rồi tự vẫn đến từ gia phả và truyền khẩu, chính sử không chép rõ.
- Chiếc mâm đồng hai đáy cùng câu đố mười sáu chữ có trong sách đời sau, nhưng nhiều người coi đó là truyện kể. Năm xảy ra cũng khác nhau, sách nói 1627, sách nói 1630.
- Việc quân Trịnh rút năm 1627 nhờ tin đồn gán cho mưu của ông chỉ là lời kể.
- Cảnh đọc sách trên lưng trâu, ngâm thơ bị nghe lén, chúa thay áo mũ mới được gặp, cùng các lời đối đáp và lời trăng trối, là giai thoại hoặc cảnh do người kể dựng lại.
- Việc ông soạn vở tuồng Sơn hậu, là tổ nghề tuồng, và Đào Tấn là hậu duệ ông chưa có bằng chứng chắc, chủ yếu dựa vào tương truyền và gia phả.
- Hổ trướng khu cơ còn đến nay nhưng có lẽ đã được người sau chép thêm. Lũy Thầy dài mười hai hay mười tám cây số tùy sách.
Vì sao câu chuyện này đáng nhớ?
Theo kịch bản, ông thành công nhờ gặp một vị chúa dám dùng người không hỏi xuất thân, nhờ hiểu đất đai núi sông và biết phòng thủ đúng chỗ, và nhờ ba mươi năm tủi nhục dùng để nghiền ngẫm binh thư.
Câu chuyện cũng có hai mặt. Tài năng ấy giúp Đàng Trong đứng vững và mở cõi về phương Nam, nhưng cũng làm vết chia đôi đất nước sâu thêm hơn một trăm năm. Điều đọng lại là lời nhắc rằng một chế độ khinh người tài vì xuất thân có thể thấy họ đứng ở phía bên kia bức tường.
Câu hỏi thường gặp
Đào Duy Từ là ai?
Ông là mưu sĩ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng Trong, sinh năm 1572 (có sách ghi 1570) ở xứ Thanh và mất năm 1634. Ông được phong Lộc Khê hầu, coi việc quân cơ và gắn với việc đắp lũy Thầy.
Lũy Thầy là gì và ở đâu?
Đó là bức lũy đất đắp năm 1631 từ chân núi Đâu Mâu qua cửa biển Nhật Lệ ra làng Đông Hải ở Quảng Bình, còn gọi là lũy Nhật Lệ. Dân gọi là lũy Thầy vì chúa gọi ông là "Thầy". Độ dài được ghi là mười hai hoặc mười tám cây số tùy sách.
Vì sao Đào Duy Từ bị gạch tên khỏi bảng đỗ?
Đa số sách kể ông bị phát giác là con kép hát nên không được dự thi. Một số bản khác cho rằng bài văn bàn cải cách của ông trái ý chúa Trịnh Tùng.
Chuyện mâm đồng hai đáy có thật không?
Chuyện có trong sách đời sau, nhưng nhiều người coi đó là truyện kể. Năm xảy ra cũng khác nhau giữa các bản, 1627 hoặc 1630.
Đào Duy Từ được ghi nhận thế nào về sau?
Năm 1806, vua Gia Long cho thờ ông ở Thái miếu, xếp vào hàng đầu các công thần khai quốc. Minh Mạng truy phong ông là Hoằng Quốc công, và ở Hoài Nhơn người ta còn gọi ông là ông Lộc Khê.
Nguồn tham khảo
- Wikipedia tiếng Việt, mục "Đào Duy Từ", tóm lược từ Đại Nam liệt truyện tiền biên (quyển 3), Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí và gia phả họ Đào: vi.wikipedia.org
- Việt Nam sử lược và Phủ biên tạp lục (qua trích dẫn) về chiến tranh Trịnh–Nguyễn
Bài viết tóm tắt từ video của kênh; nội dung mang tính giới thiệu.


