Hoàng Hoa Thám, thường gọi là Đề Thám, là thủ lĩnh khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp, hoạt động trong khoảng gần ba mươi năm cho đến năm 1913. Ông xuất thân từ một cậu bé nông dân mồ côi, không có triều đình hay thành trì đứng sau. Câu hỏi khiến chuyện của ông đáng kể lại là vì sao ông trụ được lâu đến thế, và vì sao kết cục lại đến từ những người cùng ăn cùng ngủ với ông.

Tóm tắt nhanh

Đề Thám trụ được nhờ ba thứ: rừng đồi Yên Thế với hệ thống đồn lũy kín đáo, sự che chở của dân các làng quanh vùng, và cách đánh rồi rút vào rừng. Ông cũng biết hòa đúng lúc để lấy sức, nên Pháp hai lần phải giảng hòa. Cuối cùng ông chỉ có một góc rừng, không có cả nước cùng đứng lên, và bị giết bằng sự phản bội chứ không phải bằng đại bác.

Diễn biến chính

Khoảng 1858: cậu bé mồ côi ở Tiên Lữ

Theo lời kể, cậu bé tên Nghĩa sinh khoảng năm 1858 ở Tiên Lữ, Hưng Yên, trong một nhà nghèo giữa thời đói kém. Cha cậu được kể là người đã theo cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát, bị bắt và chết trong ngục; mẹ cũng mất sớm. Cậu được người chú nuôi, đi chăn trâu, rồi theo gia đình lên vùng Yên Thế, Bắc Giang.

Yên Thế khi ấy là đất rừng đồi, nơi dân miền xuôi khai hoang, làng nào cũng có lũy tre và giáo mác để tự vệ trước các toán cướp, trong đó có quân Cờ Đen, Cờ Vàng tràn từ biên giới sang.

1885–1892: theo Cai Kinh, đổi tên, rồi theo Đề Nắm

Sau khi Huế thất thủ năm 1885 và Chiếu Cần Vương ban ra, chàng trai theo nhiều toán nghĩa quân ở đồng bằng nhưng các toán này lần lượt tan vỡ. Anh lên rừng, theo Cai Kinh ở Hữu Lũng, được nhận làm con nuôi và mang tên Hoàng Hoa Thám. Năm 1888 Cai Kinh thất thế và bị giết; Thám về với Bá Phức, được phong Đề đốc nên dân gọi là Đề Thám, rồi về Yên Thế theo Đề Nắm.

1890–1892: đồn lũy Yên Thế và biến cố tháng Tư

Các đồn như Cao Thượng, Hố Chuối, Đồng Hom được giấu trong rừng, có lũy đất, hào sâu cắm chông và lối đi quanh co. Mùa đông 1890, quân Pháp phải đánh nhiều lượt mới vào được Hố Chuối, và khi vào thì đồn đã trống. Đầu năm 1892, Pháp dồn khoảng hai nghìn hai trăm quân vây cả vùng, Hố Chuối thất thủ và một số thủ lĩnh ra hàng.

Tháng 4/1892 Đề Nắm chết. Sau đó Đề Sặt bị giết, đầu bị bêu ở chợ Nhã Nam, và Đề Thám trở thành thủ lĩnh Yên Thế.

1894–1897: bắt Chesnay và hai lần giảng hòa

Ngày 17/9/1894, nghĩa quân bắt Chesnay, chủ bút một tờ báo ở Hà Nội, cùng một người Pháp khác và đưa vào rừng. Vì con tin nằm trong tay đối phương, Pháp phải thương lượng: rút quân khỏi Yên Thế, để Đề Thám cai quản bốn tổng và trả tiền chuộc. Chesnay được thả sau khoảng một tháng.

Hòa ước nhanh chóng đổ vỡ. Pháp quay lại dưới quyền Galliéni, siết chặt từng vòng, buộc nghĩa quân lên Lạng Sơn, Thái Nguyên. Cuối năm 1897, chính Đề Thám đề nghị hòa lần hai, và nhận khu đất Phồn Xương để khai khẩn, được miễn thuế.

1897–1908: mười năm hòa ở Phồn Xương

Phồn Xương có lũy đất, ruộng lúa, kho thóc, và theo lời kể là cả nơi tập bắn, sửa súng. Người miền xuôi lên làm thuê, nhà nho bị truy lùng tìm đến lánh nạn, phóng viên Pháp lên chụp ảnh ông cùng các con. Phan Bội Châu cũng lên gặp ông; Đề Thám hứa khi trong Trung khởi sự thì Yên Thế sẽ đứng lên, nhưng nói rõ mình chỉ có một góc rừng. Bà Ba Cẩn (Đặng Thị Nhu), vợ thứ ba, quán xuyến hậu cần và việc trong đồn.

1908–1909: Hà Thành đầu độc và tổng tấn công

Tối 27/6/1908, trong thành Hà Nội, cà độc dược được bỏ vào bữa tối của lính pháo thủ Pháp. Khoảng hai trăm lính ngộ độc nhưng không ai chết; kế hoạch bị tố giác trước khi có hiệu lệnh, và mười ba người bị xử chém. Pháp quy cho Đề Thám, coi đó là cái cớ để chấm dứt mười năm hòa.

Ngày 29/1/1909, Pháp tấn công Yên Thế dưới quyền đại tá Bataille với lính lê dương, lính khố đỏ, khố xanh và đại bác. Phồn Xương bị chiếm, nghĩa quân chia nhỏ vào rừng, Đề Thám có lúc sang Tam Đảo rồi quay về. Con trai cả Cả Trọng hy sinh trong năm 1909. Ngày 1/12/1909 bà Ba Cẩn và con gái nhỏ bị bắt gần Cầu Gồ; ngày 24/2/1910 bà bị tuyên án đày sang Guyane cùng bảy mươi bảy người khác.

1910–1913: lẻ loi và bị phản bội

Các tướng lĩnh lần lượt chết, bị bắt hoặc ra hàng, Đề Thám chỉ còn vài người bên cạnh. Toàn quyền Albert Sarraut muốn chấm dứt bằng mọi giá. Theo lời kể, Lương Tam Kỳ, thủ lĩnh Cờ Vàng cũ đã theo Pháp, cài mấy người giả xin theo ông. Đêm 10/2/1913 ở Hố Lẩy, những người này bị kể là đã ra tay khi ông ngủ. Đầu ông và hai cận vệ được đem bêu ở chợ Nhã Nam theo lệnh viên công sứ Pháp. Dân vùng này không tin đó là ông, và mộ ông không ai biết ở đâu.

Điều còn tranh cãi hoặc cần thận trọng

  • Thân thế: năm sinh có bản ghi 1858, có bản sớm hơn hơn mười năm; họ gốc phần đông chép là Trương nhưng có gia phả ghi họ Đoàn. Chuyện người cha theo Cao Bá Quát chủ yếu do người đời sau kể lại.
  • Cái chết của Đề Nắm (1892): người Pháp chép ông chết vì bệnh, nhiều người tin Đề Sặt phản bội, có người ngờ chính Đề Thám đứng sau. Chưa bản nào được chứng minh.
  • Hà Thành đầu độc: nghĩa quân Yên Thế có liên quan là điều nhiều người tin, nhưng mức độ chỉ huy của Đề Thám vẫn còn bàn.
  • Cái chết năm 1913: ngày mất, người ra tay và hung khí được chép khác nhau. Thuyết cho rằng cái đầu ở Nhã Nam không phải của ông và ông trốn thoát rồi chết vì bệnh phần nhiều chỉ là lời đồn.
  • Các con số: bốn tổng, tiền chuộc, hai mươi lăm tay súng hộ vệ hay số quân Pháp năm 1909 đều được mỗi sách chép một kiểu.
  • Bà Ba Cẩn: chuyện bà gieo mình xuống biển ngày Giáng sinh năm 1910 chỉ dựa vào rất ít ghi chép.

Vì sao câu chuyện này đáng nhớ?

Chuyện Đề Thám cho thấy một lực lượng nhỏ có thể cầm cự rất lâu nhờ địa hình, lòng dân và kỷ luật, như lệnh cấm quân cướp của dân. Nó cũng cho thấy giới hạn: một vùng rừng đơn độc khó thắng một bộ máy có tiền, có thời gian và có người sẵn sàng làm thay những việc mà súng đạn không làm được.

Người Pháp gọi ông là tướng cướp, người Việt gọi ông là anh hùng. Ngày nay ở Phồn Xương có đền thờ ông, hội Yên Thế mở mỗi năm vào giữa tháng Ba, và nhiều con đường mang tên Hoàng Hoa Thám.

Câu hỏi thường gặp

Hoàng Hoa Thám là ai?

Hoàng Hoa Thám, thường gọi là Đề Thám, là thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế (Bắc Giang) chống Pháp từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1913. Dân vùng này còn gọi ông là Hùm thiêng Yên Thế.

Vì sao Đề Thám trụ được gần ba mươi năm trước quân Pháp?

Theo kịch bản video, nhờ ba điều: ông có rừng và có dân che chở, biết đánh rồi biến mất, và biết hòa đúng lúc để nuôi quân rồi đánh tiếp.

Hà Thành đầu độc năm 1908 là gì?

Đó là vụ đầu bếp và lính khố đỏ trong thành Hà Nội bỏ cà độc dược vào bữa tối của lính pháo thủ Pháp tối 27/6/1908. Khoảng hai trăm lính ngộ độc nhưng không ai chết, vì kế hoạch bị tố giác. Mười ba người bị xử chém.

Đề Thám chết như thế nào?

Theo lời kể, đêm 10/2/1913 ở Hố Lẩy, mấy người do Lương Tam Kỳ cài vào đã giết ông khi ông đang ngủ. Ngày mất, người ra tay và hung khí được các bản chép khác nhau.

Bà Ba Cẩn là ai?

Bà tên Đặng Thị Nhu, là vợ thứ ba của Đề Thám, lo hậu cần và cùng ông bàn việc đánh giặc. Bà bị Pháp bắt ngày 1/12/1909 và bị tuyên án đày sang Guyane ngày 24/2/1910.

Nguồn tham khảo

Bài viết tóm tắt từ video của kênh; nội dung mang tính giới thiệu.