Hội nghị Dartmouth 1956 thường được nhắc đến như nơi cụm từ «trí tuệ nhân tạo» ra đời, nhưng câu chuyện thật có nhiều lớp hơn thế. Bài này kể lại ai đã chọn cái tên ấy trong bản đề xuất năm 1955, vì sao họ chọn, và ai bị để lại bên ngoài danh sách. Đó là một bài học về cách một cái tên có thể sống lâu hơn chính cuộc gặp đã sinh ra nó.

Tóm tắt nhanh

Bản xin tiền đề ngày 31 tháng 8 năm 1955, do John McCarthy, Marvin Minsky, Nathaniel Rochester và Claude Shannon ký, là lần sớm nhất được biết đến mà cụm «trí tuệ nhân tạo» xuất hiện trên giấy. Theo lời McCarthy, ông chọn tên này vừa để kéo sự chú ý về việc làm cho máy hành xử thông minh, vừa để tránh bị gắn với điều khiển học của Norbert Wiener. Mùa hè 1956 không tạo ra công việc chung nào, nhưng cái tên thì ở lại.

Diễn biến chính

1948: điều khiển học của Wiener

Năm 1948, nhà toán học Norbert Wiener xuất bản Cybernetics, tức Điều khiển học, với tên phụ nói về điều khiển và truyền thông ở động vật và ở máy móc. Ý trung tâm là phản hồi: một hệ thống đo kết quả việc mình làm rồi tự điều chỉnh, như bộ điều nhiệt giữ căn phòng ấm vừa đủ. Đầu thập niên 1950, đó là cái tên lớn nhất của lĩnh vực.

1955: tên mới và chuyện xin tiền

Shannon cùng McCarthy biên tập tuyển tập Automata Studies. Theo McCarthy kể lại, Shannon muốn một tên khiêm tốn nên mọi cụm gợi đến trí thông minh của máy đều bị gạt đi. McCarthy thất vọng vì quá ít bài bàn về việc làm máy thông minh, nên khi đặt tên cho mùa hè nghiên cứu, ông muốn «đóng đinh lá cờ lên cột buồm».

Bản đề xuất xin 13.500 đô la từ Quỹ Rockefeller. Warren Weaver chuyển hồ sơ sang mảng y sinh của Robert Morison, người viết rằng đây chỉ là một «canh bạc khiêm tốn» và ông rất do dự khi mạo hiểm một khoản lớn. Morison đề nghị 7.500 đô la cho năm tuần, khoảng một nửa số xin. Alan Turing đã mất năm 1954, còn von Neumann đang bệnh, nên hai cái tên lớn không thể góp mặt.

Bốn chữ ký và một giả thuyết

McCarthy (sinh ngày 4/9/1927) là giảng viên toán ở Dartmouth; Minsky khi ấy ở Harvard; Rochester của IBM, người tham gia thiết kế máy IBM 701; Shannon của Bell Labs, tên tuổi lớn nhất nhóm. Văn bản đề nghị một nghiên cứu hai tháng, mười người, dựa trên giả thuyết rằng mọi khía cạnh của việc học hay của trí thông minh về nguyên tắc đều có thể mô tả chính xác đến mức máy mô phỏng được. Bảy mặt của bài toán được liệt kê, trong đó mục thứ ba là mạng nơ-ron.

Mùa hè 1956 ở Hanover

Khoảng giữa tháng 6 đến giữa tháng 8, nhóm làm việc ở tầng trên cùng khoa Toán, phần lớn ở khách sạn Hanover Inn. Không có lịch cố định hay người chủ tọa; ai có ý tưởng thì lên bảng viết, ai không đồng ý thì cãi. Theo ghi chép của Ray Solomonoff, chỉ ba người ở đủ tám tuần, mỗi buổi có từ ba đến tám người, và tổng cộng khoảng hai mươi cái tên từng có mặt, gồm cả John Nash.

Logic Theorist và cái tên khác

Allen Newell và Herbert Simon chỉ đến vài ngày, nhưng mang theo thứ chạy được: Logic Theorist. Theo hồi ký của Simon, ông mô phỏng bằng tay thành công chứng minh đầu tiên vào ngày 15/12/1955. Tuy vậy, báo cáo tháng 5 và tháng 7 năm 1956 của họ đều dùng tên «xử lý thông tin phức tạp», không có chữ trí tuệ nhân tạo. Theo McCarthy, hai người là «ngôi sao của buổi diễn»; ông cũng thừa nhận chỉ có hai nhóm có kết quả từ chương trình máy tính: nhóm Newell–Simon và Arthur Samuel của IBM với chương trình cờ đam.

Tháng 9/1956 và những chiếc ghế trống

Ngày 10–12/9/1956, hội nghị lý thuyết thông tin của IRE ở MIT là sân khấu thật của Logic Theorist; nhà tâm lý học George Miller coi ngày 11/9 là thời khắc thai nghén của khoa học nhận thức. Còn ở Dartmouth, bốn «chiếc ghế trống» đáng chú ý: Wiener (không có trong bất kỳ danh sách người dự nào, và McCarthy viết năm 1988 rằng một lý do đặt tên mới là để khỏi phải tôn ông làm bậc thầy hay tranh cãi với ông); tâm lý học (Donald Hebb được gợi ý mời nhưng không có dấu vết ông đến); phụ nữ (không danh sách nào có tên một người phụ nữ, dù Gloria Minsky dự một số buổi); và mạng nơ-ron, vốn có mục riêng trong bản đề xuất. Tháng 7/2006, năm người của mùa hè năm ấy trở lại Dartmouth, nơi một tấm bảng ghi tên bốn người ký và dòng «lần đầu tiên dùng thuật ngữ trí tuệ nhân tạo».

Điều còn tranh cãi hoặc cần thận trọng

  • Câu định nghĩa nổi tiếng về việc làm máy hành xử theo cách mà nếu con người làm thì ta gọi là thông minh hay bị gán cho bản đề xuất 1955. Thật ra nó được soạn sau mùa hè, rồi mới ghép vào bản đánh máy lại.
  • Chuyện Wiener bị gạt ra là suy từ các danh sách, chưa có lá thư nào chứng minh. Chính McCarthy chỉ coi đó là một trong các lý do; lý do ông nhắc nhiều nhất vẫn là lá cờ trên cột buồm.
  • Việc Minsky quay lưng với mạng nơ-ron là lời kể hơn nửa thế kỷ sau; McCarthy cho rằng ngành đã tách hai ngả từ trước 1956.
  • Những lời như của Simon («họ không muốn nghe chúng tôi») hay của Samuel về chữ «nhân tạo» là hồi ức hoặc giai thoại qua người khác ghi lại.
  • Tiền cho ngành không chỉ đến nhờ cái tên: dòng tiền lớn đến sau 1962 từ ARPA, và theo McCarthy phần lớn nhờ nhà tâm lý học J. C. R. Licklider.

Vì sao câu chuyện này đáng nhớ?

Mùa hè Dartmouth thường được kể như một khởi đầu rực rỡ, nhưng theo chính người tổ chức, đó là một mùa hè mà ai cũng theo đuổi chương trình riêng của mình. Điều còn lại là một cái tên: «xử lý thông tin phức tạp» chỉ mô tả việc đang làm, còn «trí tuệ nhân tạo» cắm một đích đến và lấy con người làm thước đo. Lời hứa lớn ấy hút được người tài và mở được cửa, như ở MIT năm 1958, nhưng mỗi lần máy chưa theo kịp con người, cả ngành lại bị chấm điểm bằng đúng cây thước nó tự chọn.

Năm 1980, Newell, người từng in một cái tên khác lên giấy, khuyên giới nghề hãy trân trọng cái tên này vì nó sẽ lớn lên cùng ngành. Bảy mươi năm sau, câu hỏi vẫn mở: cái tên đã lớn kịp lời hứa của nó chưa?

Câu hỏi thường gặp

Ai đã đặt tên «trí tuệ nhân tạo»?

John McCarthy, giảng viên toán ở Dartmouth, là người chọn cụm từ này cho bản đề xuất mùa hè nghiên cứu đề ngày 31/8/1955, do bốn người ký. Đó là lần sớm nhất được biết đến mà cụm từ xuất hiện trên giấy.

Vì sao McCarthy chọn cái tên ấy?

Theo lời ông kể, ông thất vọng vì tuyển tập Automata Studies có quá ít bài về việc làm máy hành xử thông minh, nên muốn «đóng đinh lá cờ lên cột buồm». Năm 1988 ông còn viết rằng một lý do là để thoát khỏi sự gắn với điều khiển học và khỏi phải tôn hay tranh cãi với Wiener.

Hội nghị Dartmouth có tạo ra kết quả gì không?

Theo McCarthy, không có công việc chung thực sự và không có báo cáo về mùa hè ấy. Một số ý tưởng riêng lẻ về sau có ích, như máy chứng minh định lý hình học ở IBM năm 1959 và việc xử lý danh sách dẫn tới Lisp.

Logic Theorist là gì?

Là chương trình của Allen Newell và Herbert Simon, tìm cách chứng minh các định lý trong Principia Mathematica. Về sau nó chứng minh được 38 trong 52 định lý đầu ở chương hai của bộ sách.

Vì sao Norbert Wiener không có mặt ở Dartmouth?

Tên ông không có trong bản đề xuất, danh sách mười một người, ghi chép người dự hay danh sách gửi tài liệu. Việc ông bị chủ ý gạt ra chỉ là suy từ các danh sách; McCarthy chỉ nói tránh Wiener là một trong những lý do đặt tên mới.

Nguồn tham khảo

  • McCarthy, Minsky, Rochester, Shannon — A Proposal for the Dartmouth Summer Research Project on Artificial Intelligence (31/8/1955), bản PDF
  • Grace Solomonoff — Ray Solomonoff and the Dartmouth Summer Research Project in Artificial Intelligence, 1956, bản PDF
  • McCarthy — hồi ức về Dartmouth (1987), các bài trình bày 2006 và bài điểm sách trên Annals of the History of Computing (1988)
  • Allen Newell — bài trên AI Magazine (1980, 1984)
  • James Moor — bài về AI@50 (2006); George Miller — bài trên Trends in Cognitive Sciences (2003)
  • Nils Nilsson — Quest for Artificial Intelligence; hồi ký NAS về McCarthy (2012)
  • Rockefeller Archive Center (Shubinski, 2022); IEEE Spectrum (2023)

Bài viết tóm tắt từ video của kênh; nội dung mang tính giới thiệu.